Học tiếng trung online ở đâu tốt tại Hà Nội, Tp HCM > Thành ngữ tiếng Trung > [Thành ngữ tiếng Trung] Tìm hiểu một số bài nổi tiếng trong bộ Tam tự kinh

[Thành ngữ tiếng Trung] Tìm hiểu một số bài nổi tiếng trong bộ Tam tự kinh

Chúng mình hãy cùng tiếng Trung Dương Châu điểm qua một số bài trong bộ sách kinh điển Tam tự kinh này nhé!

 

Nhân chi sơ人之初 (Rén zhī chū)

Tính bản thiện性本善 (xìng běnshàn)

Tính tương cận性相近 (xìng xiāngjìn)

Tập tương viễn习相远 (xíxiāngyuǎn)

Tạm Dịch :

(Trời phú cho mỗi người một cái Tánh bổn thiện, ai cũng giống như ai, nên gọi là gần nhau; nhưng khi lớn lên, vì thâm nhiễm thói đời hư xấu nên cái Tánh trở nên xa nhau.)

 

Giải nghĩa: Con người khi mới sinh ra thì bản chất thiện hảo, lâu dần do môi trường sống là những gương sống của người khác và cách giáo dục của cha mẹ, thầy cô nên người đó có thể trở nên một con người khác: có thể là tốt lành mà cũng có thể là xấu tệ .

 

Cẩu bất giáo苟不教 (gǒu bù jiào)

Tính nãi thiên性乃迁 (xìng nǎi qiān)

Giáo chi đạo教之道 (jiàozhī dào)

Quý dĩ chuyên贵以专 (guì yǐ zhuān)

Tạm Dịch :

(Nếu chẳng được giáo dục, bản tính sẽ thay đổi.) (Đường lối để giáo dục, quý ở sự chuyên cần.)

 

Giải nghĩa: Con người khi sinh ra, ai cũng có bản tính hiền lành. Vì bản tính hiền lành giống nhau, nên giúp họ gần nhau. Nhưng khi lớn lên, hòa nhập với xã hội. Bản tính bị nhiễm thói tục ở đời, khiến tính tình trở lên khác đi, thành ra xa nhau. Nếu như con người không được dạy dỗ, giáo dục từ nhỏ. Thì bản tính ban đầu ấy sẽ dần thay đổi theo môi trường mà họ tiếp xúc. Về giáo dục con cái, phải lấy đức chuyên làm trọng.

 

Tích mạnh mẫu昔孟母 (xī mèng mǔ)

Trạch lân xử择邻处 (zé lín chù)

Tử bất học子不学 (zi bù xué)

Đoạn cơ trử断机杼 (duàn jīzhù)

Tạm dịch :

(Chuyện ngày xưa, mẹ của Mạnh Tử phải chọn láng giềng để làm nơi ở. Khi thấy con lười học mới chặt khung cửi để làm một bài học cho con.)

 

Giải nghĩa: Thời Chiến Quốc, mẹ của Mạnh Tử vì để tìm một môi trường thích hợp cho Mạnh Tử học tập đã ba lần chuyển nhà. Một lần nọ, Mạnh Tử bỏ học trở về nhà, mẹ Mạnh Tử đã tức giận đến mức cắt miếng vải đang dệt dở ra làm hai. Bà nói: “Đi học cũng giống như dệt vải vậy. Một miếng vải tốt được dệt bắt đầu từ từng sợi một, từng chút một. Giờ một nửa miếng vải đã bị cắt mất, ta lại phải dệt lại từ đầu”

 

Đậu yên sơn窦燕山 (dòu yànshān)

Hữu nghĩa phương有义方 (yǒu yì fāng)

Giáo ngũ tử教五子 (jiào wǔzǐ)

Danh câu dương名俱扬 (míngjù yáng)

Tạm dịch :

(Đậu Vũ Quân ở Yên Sơn là người nhân nghĩa, lấy điều đạo nghĩa dạy năm con, sau này năm người con của ông đều làm quan, danh vọng hiển hách)

 

 Giải nghĩa: Vào thời Ngũ Đại, có một người cha rất coi trọng giáo dục con cái, đó là Đậu Yên Sơn. Ông chiểu theo lời giáo huấn của Thánh hiền mà dạy dỗ con cái. Năm người con dưới sự giáo dưỡng của ông cuối cùng đều thành tựu, tiếng tăm truyền khắp tứ phương.

 

Dưỡng bất giáo养不教 (yǎng bù jiào)

Phụ chi quá父之过 (fǔ zhīguò)

Giáo bất nghiêm教不严 (jiào bù yán)

Sư chi đọa师之惰 (shī zhī duò)

Tạm Dịch :

(Nuôi con mà không dạy bảo, đó là lỗi của người cha. Dạy con mà không nghiêm, đó là lỗi của người thầy)

Giải nghĩa:

Nuôi con mà không dạy, là lỗi của người cha,
Dạy trò mà không nghiêm, là do thầy bê trễ.
Con trẻ không học tập, sẽ không biết lễ nghi,
Lúc còn nhỏ không học, khi già biết làm gì?

Sẽ là thiếu sót của bậc làm cha mẹ nếu họ chỉ chu cấp cho con cái mình những nhu cầu vật chất mà không chú trọng dạy bảo chúng. Tương tự, nếu giáo dục học trò mà không nghiêm, thì người thầy chưa làm tròn trách nhiệm của mình.

Trẻ nhỏ không được học hành lười nhác hay trốn học. Nếu chúng không nỗ lực học cách hành xử và giải quyết vấn đề khi còn trẻ, và không thể học hỏi, mở mang kiến thức trong xã hội, chúng sẽ không biết làm gì khi lớn lên.

 

 

Tử bất học子不学 (zi bù xué)

Phi sở nghi非所宜 (fēi suǒ yí)

Ấu bất học幼不学 (yòu bù xué)

Lão hà vi老何为 (lǎo hé wèi)

Tạm Dịch :

(Trẻ con mà không được đi học thì không phải lẽ. Lúc còn nhỏ không học khi già biết làm gì?)

 

Giải nghĩa: Khi còn nhỉ thì phải chăm chỉ học hành cho tốt . Một người khi còn nhỏ chăm chỉ chịu khó học hành cho tốt, đến khi về già rồi cũng mới có thể dễ dàng hiểu được đạo lí làm người, có tri thức, mới có thể làm được mọi việc.

 

Ngọc bất trác玉不琢 (yù bù zuó)

Bất thành khí不成器 (bùchéngqì)

Nhân bất học人不学 (rén bù xué)

Bất tri nghĩa不知义 (bùzhī yì)

Tạm Dịch :

(Ngọc không được mài giũa không thành đồ dùng được, con người mà không được dạy dỗ sẽ không biết đạo nghĩa)

 

 Giải nghĩa: “Ngọc bất trác bất thành khí”: Hòn ngọc không mài giũa hay đẽo gọt thì chẳng nên món đồ và không thể làm cho nó thể hiện được vẻ đẹp và giá trị của nó. Từ một viên đá quý, một viên ngọc lấy trong tự nhiên nếu không có bàn tay gọt đẽo, mài giũa của con người thì không thành những sản phẩm trang sức đẹp, quý giá được.

Nhân bất học bất tri lí”: có nghĩa là nếu con người không được học hành đầy đủ (học cả ở trường lớpvà trường đời) thì không biết đến những lí luận, hiểu biết… về mọi sự vật hiện tượng được. Con người mà không có học thức thì làm sao có những hiểu biết, không có hiểu biết thì không có những lí lẽ, lập luận, bàn luận… về mọi vấnđề của đời sống con người và xã hội. Vì thế nếu là ngọc thì phải có sự gọt đẽo, mài giũa mới thể hiện được vẻđẹp và giá trị của nó. Con người cũng như ngọc phải được học tập đầy đủ những kiến thức về tự nhiên, xã hộithì mới trở thành người hoàn thiện về nhân cách

 

 

Vi nhân tử为人子 (wéirén zǐ)

Phương thiếu thời方少时 (fāng shǎoshí)

Thân sư hữu亲师友 (qīn shī yǒu)

Tập lễ nghi习礼仪 (xí lǐyí)

Tạm dịch :

(Làm người con, đương trẻ lúc, Cận thầy bạn, tập lễ nghi.)

Giải nghĩa: Phận làm con cái, từ nhỏ nên gần gũi với thầy cô, bạn bè để học tập những lễ tiết và tri thức, cách đối nhân xử thế từ họ.

 

Hương cửu linh香九龄 (xiāng jiǔ líng)

Năng ôn tịch能温席 (néng wēn xí)

Hiếu ư thân孝于亲 (xiào yú qīn)

Sở đương chấp所当执 (suǒ dāng zhí)

Tạm Dịch :

(Hoàng Hương 9 tuổi, ấm chăn chiếu ,có hiếu cha mẹ, là việc nên làm)

 Giải nghĩa: Khi Hoàng Hương lên chín tuổi đã biết dùng hơi ấm cơ thể của mình để ủ ấm chăn chiếu vào mùa đông, sau đó mới mời cha lên giường đi ngủ.Hiếu thuận với cha mẹ, là bổn phận mà người làm con nên làm.

 

Dung tứ tuế融四岁 (róng sì suì)

Năng nhượng lê能让梨 (néng ràng lí)

 

Đễ ư trưởng弟于长 (dì yú zhǎng)

Nghi tiên tri宜先知 (yí xiānzhī)

 Tạm dịch :

Dung tứ tuế, Năng nhượng lê ,Đệ vu trưởng, Nghi tiên tri

 

Giải nghĩa: Khổng Dung khi mới bốn tuổi đã biết khiêm nhường, cậu nhường quả lê to cho anh ăn, còn mình thì ăn quả nhỏ.Yêu mến anh là đạo lý mà người em nên hiểu từ khi còn nhỏ.